Đồng Hỷ – Wikipedia tiếng Việt

Đồng Hỷ là một huyện nằm ở phía đông bắc tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Trụ sở Bộ Tư lệnh Quân khu 1 đóng trên địa bàn huyện.

Huyện Đồng Hỷ có vị trí địa lý :
Huyện Đồng Hỷ có diện tích quy hoạnh 427,73 km2, dân số năm 2019 là 90.709 người, tỷ lệ dân số đạt 212 người / km2 .

Huyện Đồng Hỷ là trung tâm quân sự của 6 tỉnh phía Bắc (Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Cao Bằng) với trụ sở Quân khu 1 đóng trên địa bàn.[6]

Huyện Đồng Hỷ có vị trí thuận tiện nằm sát với thành phố Thái Nguyên, TT chính trị, văn hóa truyền thống của tỉnh Thái Nguyên. [ 7 ]

Tài nguyên tài nguyên[sửa|sửa mã nguồn]

Huyện Đồng Hỷ có nguồn tài nguyên tài nguyên phong phú và đa dạng như quặng sắt ở Mỏ sắt Trại Cau [ 8 ]. Khai thác núi đá vôi ở Mỏ đá Núi Voi [ 9 ] và rất nhiều những mỏ khai thác đá vôi khác nằm trên địa phận huyện Đồng Hỷ .

Dân cư – dân tộc bản địa – tôn giáo[sửa|sửa mã nguồn]

Dân cư – dân tộc bản địa[sửa|sửa mã nguồn]

Năm

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2013

2015

2017

2019

Dân số (người)

122.536

124.722

126.453

114.608[10]

118.216

122.038

125.000[11]

126.538

128.103

130.407

90.709[12] Năm 2005, dân số huyện là 122.536 người với gần 28.000 hộ dân .Tính đến tháng 12 năm 2006, huyện Đồng Hỷ có số dân là 124.722 người gồm có 28.741 hộ dân, trong đó dân tộc bản địa Kinh chiếm 63,3 %, Nùng 13,2 %, Dao 4,4 %, Tày 2,5 %, Hmông khoảng chừng 1,6 %, còn lại những dân tộc bản địa khác chiếm 4,74 %. Dân số nông thôn chiếm 56,29 %, dân số thành thị chiếm 13,71 %, số người trong độ tuổi lao động chiếm 42 % trong đó lao động nông nghiệp chiếm 73,5 %. [ 13 ]Tốc độ tăng trưởng dân số của huyện Đồng Hỷ ở thập kỷ cuối của thế kỷ XX có xu thế giảm dần : năm 1991 là 2,09 %, năm 1995 là 2 %, năm 1998 là 1,86 %. [ 13 ]Mật độ dân số của huyện là 215 người / km2 ( tỷ lệ dân số toàn tỉnh là 303 người / km2 ). Phân bố dân cư trên chủ quyền lãnh thổ huyện Đồng Hỷ không đồng đều, có sự chênh lệch tương đối lớn, cao nhất là thị xã Chùa Hang với tỷ lệ cư trú là 2.996 người / km2, thấp nhất là xã Hợp Tiến với tỷ lệ cư trú là 53 người / km2. [ 13 ]Dân cư huyện Đồng Hỷ gồm có nhiều bộ phận hợp thành. Một bộ phận là dân địa phương, xuất hiện từ truyền kiếp. Một phần là dân phu được tuyển mộ từ những tỉnh đồng bằng Bắc Bộ đến làm trong những đồn điền, hầm mỏ của những chủ người Pháp, người Việt ở cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Một bộ phận dân của những tỉnh Tỉnh Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Tỉnh Thái Bình, … ở thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ XX được hoạt động lên huyện Đồng Hỷ tham gia tăng trưởng kinh tế tài chính văn hóa truyền thống. Cùng thời hạn này, Nhà nước mở nhiều công trường thi công, nhà máy sản xuất, nông trường trên địa phận huyện, hàng ngàn người ở khắp những miền quốc gia đã về đây để lao động kiến thiết xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho Chủ nghĩa xã hội. [ 13 ]Từ cuối thập kỷ 70 của thế kỷ XX, tình hình biên giới phía Bắc có những diễn biến phức tạp, gần 2000 đồng bào Hmông từ những tỉnh biên giới đã vận động và di chuyển về huyện Đồng Hỷ để làm ăn và sinh sống. Đây là tộc người vận động và di chuyển đến huyện Đồng Hỷ muộn nhất. [ 13 ]Trong huyện Đồng Hỷ có tổng số 8 dân tộc bản địa đồng đội cùng sinh sống, tuy có những phong tục, tập quán khác nhau nhưng có mối quan hệ đoàn kết gắn bó, cùng nhau chung sức để thiết kế xây dựng huyện Đồng Hỷ ngày càng giàu đẹp. [ 13 ]Năm 2007, dân số huyện có tổng số là 126.453 người với 29.306 hộ dân .Năm 2008, do kiểm soát và điều chỉnh địa giới hành chính, dân số huyện còn lại 114.608 người cùng với trên 27.000 hộ dân .Năm 2009, dân số huyện là 118.216 người gồm 27.712 hộ dân .Năm 2010, dân số huyện Đồng Hỷ có tổng 122.038 người với 28.317 hộ dân .Đến ngày 1 tháng 4 năm 2011, tổng cục thống kê dân số tỉnh Thái Nguyên đã quyết định hành động công bố dân số huyện Đồng Hỷ là 125.000 người và có gần 29.000 hộ dân .Năm 2013, dân số toàn huyện Đồng Hỷ là 126.538 người với tổng 29.412 hộ dân .Năm năm ngoái, dân số huyện là 128.103 người với tổng trên 30.000 hộ dân .Đầu năm 2017, dân số huyện Đồng Hỷ có tổng số là 130.407 người với tổng số 31.408 hộ dân .Tháng 9 năm 2017, huyện Đồng Hỷ gặp dịch chuyển rất lớn về hành chính do bị kiểm soát và điều chỉnh địa giới, dân số huyện Đồng Hỷ đã giảm mạnh còn lại 88.439 người với trên 23.000 hộ dân .Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, dân số huyện Đồng Hỷ có tổng số là 90.709 người với gần 24.000 hộ dân, xếp thứ 7 trong toàn tỉnh, chỉ đông hơn huyện Định Hóa và huyện Võ Nhai .Huyện Đồng Hỷ là một huyện tiếp giáp hầu hết những xã / thị xã ở phía Nam và Đông Nam của huyện với thành phố Thái Nguyên, có vị trí nằm sát với TT kinh tế tài chính, chính trị và văn hóa truyền thống của tỉnh nên vận tốc tăng trưởng dân số của huyện nhanh hơn so với những huyện miền núi khác thuộc tỉnh Thái Nguyên .
Về tôn giáo, gồm có những loại tôn giáo phổ cập như : Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Công giáo và Tin Lành, … [ 14 ] Huyện Đồng Hỷ mang những nét chung của khí hậu vùng đông bắc Nước Ta, thuộc miền khí hậu cận nhiệt đới ẩm, có mùa đông lạnh buốt, ít mưa, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều. Khí hậu của huyện Đồng Hỷ chia làm 4 mùa : xuân, hạ, thu, đông và nằm trong vùng ấm của tỉnh, có lượng mưa trung bình khá lớn .Khí hậu được hình thành từ một nền nhiệt cao của đới chí tuyến và sự sửa chữa thay thế của những hoàn lưu lớn theo mùa, chúng tích hợp với địa hình đã tạo nên khí hậu nóng ẩm, mưa mùa, có mùa đông lạnh và thất thường trong năm. [ 7 ]Nhiệt độ trung bình hàng năm của huyện Đồng Hỷ là 22 °C. Vào ngày hè, thời tiết nực nội, nhiệt độ trung bình khoảng chừng từ 25 – 27 °C, mùa đông chịu ảnh hưởng tác động của hơn 20 đợt gió mùa Đông Bắc, mỗi đợt lê dài từ 2 – 5 ngày, tiết trời giá lạnh, ít mưa, nhiệt độ giao động từ 12 – 15 °C, có năm thấp xuống dưới 10 °C, Open sương muối. Ba tháng nhiệt độ lạnh nhất trong năm là tháng 12, tháng 1 và tháng 2 nhiệt độ trung bình dưới 17 °C. [ 7 ]Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1500 mm đến 2200 mm ; chính sách mưa hầu hết phụ thuộc vào vào hoàn lưu mùa. Mùa mưa trùng với mùa nóng lê dài từ tháng 4 đến tháng 10 chiếm từ 85 – 90 % lượng mưa trong năm. Mùa ít mưa trùng với mùa lạnh, diễn ra từ tháng 11 đến tháng 3 với lượng mưa từ 200 – 400 mm, bằng 10 – 15 % lượng mưa của cả năm. [ 7 ]

Dữ liệu khí hậu của huyện Đồng Hỷ

Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Năm

Cao kỉ lục °C (°F)

31.1

40.7

35.7

37.7

39.4

39.5

38.8

38.4

37.4

34.9

34.0

30.6

40,7

Trung bình cao °C (°F)

19.7

20.2

22.8

27.0

31.3

32.6

32.8

32.4

31.7

29.1

25.6

22.2

27,3

Trung bình ngày, °C (°F)

16.0

17.0

19.8

23.6

27.1

28.4

28.6

28.1

27.1

24.5

20.9

17.6

23,2

Trung bình thấp, °C (°F)

13.6

14.9

17.8

21.3

24.0

25.4

25.5

25.2

24.1

21.3

17.6

14.6

20,4

Thấp kỉ lục, °C (°F)

3.0

1.3

6.1

12.6

16.4

19.7

20.5

21.7

16.3

10.2

7.2

3.2

1,3

Giáng thủy mm (inch)

25
(0.98)

35
(1.38)

62
(2.44)

121
(4.76)

232
(9.13)

338
(13.31)

410
(16.14)

347
(13.66)

237
(9.33)

146
(5.75)

49
(1.93)

24
(0.94)

2.025
(79,72)

% độ ẩm

79.7

81.3

85.1

85.8

82.0

82.8

83.6

85.1

82.5

80.1

77.7

76.9

81,9

Số ngày giáng thủy TB

10.4

12.4

17.8

17.5

15.3

17.0

17.7

18.1

13.5

10.7

7.3

5.7

163,5

Số giờ nắng trung bình hàng tháng

69

46

46

80

170

164

189

184

192

174

147

125

1.585

Nguồn: Vietnam Institute for Building Science and Technology[15]
Trên địa phận huyện Đồng Hỷ có hai con sông chính. Sông Cầu là dòng chảy chính của sông Tỉnh Thái Bình, bắt nguồn từ phía bắc ở núi Phia Boóc, bản Văn Ôn, xã Phương Viên, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn với độ cao trên 1200 m, chảy qua những huyện : Bạch Thông, Phú Lương, Võ Nhai. Đến địa phận huyện Đồng Hỷ, sông chảy qua những xã : Văn Lăng, Hòa Bình, Minh Lập, Hóa Thượng và chảy qua thành phố Thái Nguyên, huyện Phú Bình, thị xã Phổ Yên sang tỉnh TP Bắc Ninh. Sông Cầu có lưu lượng nước lớn, trung bình khoảng chừng 135 mét vuông / năm, chính sách nước tương thích với chính sách mưa. Mùa mưa đồng thời là mùa lũ lê dài từ tháng 5 cho đến tháng 10 hàng năm. Mùa kiệt tương thích với mùa khô, từ tháng 11 đến tháng 4 hàng năm. Sông Linh Nham là sông nhỏ hay còn là phụ lưu của dòng sông Cầu, chảy từ xã Khe Mo qua xã Hóa Trung và thành phố Thái Nguyên, hợp lưu với sông Cầu ở thành phố Thái Nguyên. [ 7 ] Bản đồ địa hình, địa mạo tỉnh Thái Nguyên năm 2008, được trích trong sách Địa lí tỉnh Thái Nguyên lớp 9, năm 2008Địa hình của huyện Đồng Hỷ rất phức tạp, có sự đổi khác rất rõ ràng địa hình tại hai vùng : phía Bắc và phía Đông Bắc ( gồm có những xã sau : Văn Lăng, Tân Long, Văn Hán và Cây Thị, … ) là vùng núi thấp, độ cao trung bình của địa hình là khoảng chừng từ 500 cho đến 600 m ; phía Nam và phía Tây Nam ( gồm có những xã sau : Hóa Thượng, Nam Hòa, Tân Lợi, … ) là vùng trung du có địa hình thấp, độ cao trung bình của địa hình là dưới 100 m. [ 7 ] Huyện Đồng Hỷ có 15 đơn vị chức năng hành chính thường trực, gồm có 2 thị xã : Sông Cầu, Trại Cau và 13 xã : Cây Thị, Hóa Thượng ( huyện lỵ ), Hóa Trung, Hòa Bình, Hợp Tiến, Khe Mo, Minh Lập, Nam Hòa, Quang Sơn, Tân Lợi, Tân Long, Văn Hán, Văn Lăng .Huyện lỵ mới của huyện Đồng Hỷ đặt tại xã Hóa Thượng do thị xã Chùa Hang, huyện lỵ cũ đã chuyển về thành phố Thái Nguyên vào ngày 18 tháng 8 năm 2017. Tuy nhiên, do trụ sở hành chính của huyện chưa xây xong, nên hiện tại huyện Đồng Hỷ vẫn liên tục sử dụng trụ sở cũ tại phường Chùa Hang, thành phố Thái Nguyên. [ 3 ]

Huyện Đồng Hỷ được đặt từ thời nhà Trần. Năm 1469, dưới triều vua Lê Thánh Tông đổi thành Đồng Hỷ; sau đổi là huyện Đồng Gia, rồi lại đổi thành Đồng Hỷ; là một trong 7 châu, huyện thuộc phủ Phú Bình, xứ Thái Nguyên. Trong thời nhà Nguyễn (TK XIX), huyện Đồng Hỷ gồm: 9 tổng, 33 xã, thôn, trang, phường; huyện lỵ đặt ở xã Huống Thượng.[16][17]

  • Tổng Túc Duyên có 6 xã, 1 trang, 1 thôn, 1 phường: xã Túc Duyên, xã Đồng Mỗ, xã Phù Liễn, xã Thịnh Đán, xã Sa Kiệt, xã Lưu Xá, trang Mỗ Thượng, thôn Xuân Quang, phường Đồng Hòa.
  • Tổng Niệm Quang có 3 xã: Niệm Quang, Tích Mễ, Bá Xuyên.
  • Tổng Huống Thượng có 4 xã, 1 phường: Huống Thượng, Linh Nham, Phổ Lý, Đồng Bẩm và phường Huống Thượng (thuỷ cơ).
  • Tổng Đồng Bang có 4 xã: Đồng Bang, Cam Giá, Nam Ký, Vân Hán.
  • Tổng Hóa Thượng có 3 xã: Hóa Thượng, Hóa Trung, Quang Vinh.
  • Tổng Văn Lăng có 4 xã: Vân Lăng, Đặc Kiệt, Sa Lung và Cúc Đường.
  • Tổng Thượng Nùng có 2 xã: Thượng Nùng, Thần Sa.
  • Tổng Linh Sơn có xã Linh Sơn và thôn La Hiên.
  • Tổng Minh Lý có xã Minh Lý.

So với những huyện khác trong tỉnh Thái Nguyên, Đồng Hỷ luôn xáo động về địa giới hành chính, nhất là ở thế kỷ XX mà nửa cuối thế kỷ này gần như thập kỷ nào cũng có dịch chuyển. [ 17 ] [ 18 ]Năm 1901, chính quyền sở tại thực dân Pháp cùng với việc kiểm soát và điều chỉnh địa giới cấp tỉnh, bỏ cấp phủ, đặt cấp châu, huyện thường trực tỉnh đã cắt đất 3 tổng Văn Lăng, Thượng Nùng ( nay là Thượng Nung ), Linh Sơn về châu Võ Nhai. Tách xã Thịnh Đán, Sa Kiệt ( Sa Kệ – Sa Cạt ) khỏi tổng Túc Duyên để xây dựng tổng Thịnh Đán. Đổi tổng Đồng Bang thành tổng Cam Giá, tách xã Lưu Xá của tổng Túc Duyên về tổng Cam Giá, tách xã Văn Hán khỏi tổng Cam Giá để xây dựng tổng mới Văn Hán. Như vậy, ở đầu thế kỷ XX Đồng Hỷ còn 7 tổng là Túc Duyên, Thịnh Đán, Niệm Cuông ( Niệm Quang ), Hóa Thượng, Cam Giá, Huống Thượng và Vân Hán. [ 17 ]Kể từ năm Gia Long thứ 12 ( 1813 ), thành trấn Thái Nguyên ( cũng là trấn lỵ, từ 1831 là tỉnh lỵ ) được đặt ở làng Đồng Mỗ huyện Đồng Hỷ ; dinh tuần phủ Thái Nguyên cũng đặt ở Đồng Mỗ ( nay là đất phường Trưng Vương ) ; huyện lỵ Đồng Hỷ ở xã Huống Thượng, đầu thế kỷ XX mới chuyển lên Đồng Mỗ. Cách mạng Tháng Tám thành công xuất sắc ( 1945 ), thị xã Thái Nguyên chính thức trở thành một đơn vị chức năng hành chính, chính quyền sở tại cách mạng của thị xã sinh ra – đô thị tỉnh lỵ Thái Nguyên mới trở thành thị xã tỉnh lỵ Thái Nguyên, tách ra khỏi huyện Đồng Hỷ. [ 17 ]Năm 1957, theo quyết định hành động của Thủ tướng nhà nước, xã Mỏ Sắt thuộc huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang chuyển giao về huyện Đồng Hỷ ( xã Mỏ Sắt sau đổi là xã Hợp Tiến ). Huyện Đồng Hỷ có 28 xã : Hợp Tiến, Cây Thị, Nam Hòa, Huống Thượng, Văn Hán, Minh Lập, Khe Mo, Linh Sơn, Cao Ngạn, Hóa Thượng, Hóa Trung, Tân Lợi, Phúc Hà, Thịnh Đán, Phúc Xuân, Phúc Trìu, Tân Cương, Thịnh Đức, Tích Lương, Tân Quang, Bá Xuyên, Bình Sơn, Quang Vinh, Đồng Bẩm, Đồng Quang, Túc Duyên, Gia Sàng, Cam Giá. [ 17 ]Năm 1958, nhà nước quyết định hành động lấy một phần đất của những xã Đồng Bẩm, Cao Ngạn, Hóa Thượng để xây dựng thị xã Núi Voi và tiểu khu Chiến Thắng thường trực thị xã Thái Nguyên. [ 17 ] [ 19 ]Ngày 19 tháng 10 năm 1962, Hội đồng nhà nước ra Quyết định 114 – CP về việc xây dựng thành phố Thái Nguyên và thị xã Trại Cau. Thực hiện Quyết định này, Đồng Hỷ chuyển giao về thành phố Thái Nguyên 6 xã là : Cam Giá, Gia Sàng, Túc Duyên, Quang Vinh, Đồng Bẩm, Đồng Quang ( trừ xóm Kiến Ninh, Phú Thái và Yên Lập sáp nhập vào xã Thịnh Đán ) và cắt ba xóm Thái Thông, Đoàn Kết, Thác Ngạc của xã Tân Lợi để xây dựng thị xã Trại Cau thường trực thành phố Thái Nguyên. [ 16 ] [ 17 ]Huyện Đồng Hỷ còn lại 22 xã : Bá Xuyên, Bình Sơn, Cao Ngạn, Cây Thị, Hóa Thượng, Hóa Trung, Hợp Tiến, Huống Thượng, Khe Mo, Linh Sơn, Minh Lập, Nam Hòa, Phúc Hà, Phúc Trìu, Phúc Xuân, Tân Cương, Tân Lợi, Tân Quang, Thịnh Đán, Thịnh Đức, Tích Lương, Văn Hán .Ngày 27 tháng 10 năm 1967, xây dựng thị xã nông trường Sông Cầu .Ngày 21 tháng 10 năm 1982, huyện tiếp đón lại thị xã Trại Cau từ thành phố Thái Nguyên. [ 20 ]Ngày 1 tháng 10 năm 1983, xã Phúc Thọ ( xã có nhiều diện tích quy hoạnh đất đai bị chìm trong lòng Hồ Núi Cốc ) thuộc huyện Đại Từ được sáp nhập với những xóm Tân Thắng, Đồng Đẳng của xã Phúc Thuận thuộc huyện Phổ Yên, xóm Yên Ninh của xã Phúc Trìu thuộc huyện Đồng Hỷ thành xã Phúc Tân thuộc huyện Đồng Hỷ. [ 21 ]Ngày 2 tháng 4 năm 1985, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 102 – HĐBT. [ 22 ] Theo đó, chuyển 7 xã : Phúc Hà, Phúc Xuân, Phúc Trìu, Tân Cương, Thịnh Đức, Thịnh Đán, Tích Lương thuộc huyện Đồng Hỷ về thành phố Thái Nguyên ; chuyển 4 xã : Bá Xuyên, Bình Sơn, Phúc Tân, Tân Quang thuộc huyện Đồng Hỷ về huyện Phổ Yên ; chuyển xã Đồng Bẩm và 2 phường Chiến Thắng, Núi Voi thuộc thành phố Thái Nguyên, 4 xã : Tân Long, Văn Lăng, Hòa Bình, Quang Sơn thuộc huyện Võ Nhai về huyện Đồng Hỷ. Đồng thời, sáp nhập 2 phường Chiến Thắng và Núi Voi để xây dựng thị xã Chùa Hang, thị xã huyện lỵ huyện Đồng Hỷ. [ 16 ] [ 17 ] [ 23 ]Cuối năm 2007, huyện Đồng Hỷ có 3 thị xã : Chùa Hang, Trại Cau, thị xã nông trường Sông Cầu và 17 xã : Cao Ngạn, Cây Thị, Đồng Bẩm, Hòa Bình, Hóa Thượng, Hóa Trung, Hợp Tiến, Huống Thượng, Khe Mo, Linh Sơn, Minh Lập, Nam Hòa, Quang Sơn, Tân Lợi, Tân Long, Văn Hán, Văn Lăng .Ngày 31 tháng 7 năm 2008, nhà nước ra Nghị định số 84/2008 – CP về việc kiểm soát và điều chỉnh địa giới huyện Đồng Hỷ để lan rộng ra thành phố Thái Nguyên, chuyển 2 xã Cao Ngạn và Đồng Bẩm về thành phố Thái Nguyên quản trị. [ 16 ] [ 24 ]Ngày 13 tháng 1 năm 2011, nhà nước ra Nghị quyết số 05 / NQ-CP về giải thể, kiểm soát và điều chỉnh địa giới để xây dựng những phường, thị xã trên địa phận tỉnh Thái Nguyên ; theo đó, xây dựng thị xã Sông Cầu trên cơ sở giải thể thị xã nông trường Sông Cầu. [ 25 ]Ngày 18 tháng 8 năm 2017, chuyển thị xã Chùa Hang và 2 xã Linh Sơn, Huống Thượng về thành phố Thái Nguyên quản trị. [ 3 ] [ 16 ]Huyện Đồng Hỷ còn lại 2 thị xã và 13 xã như lúc bấy giờ. Huyện lỵ của huyện được dời về xã Hóa Thượng, gần trụ sở Bộ tư lệnh Quân khu 1 .

Kinh tế – xã hội[sửa|sửa mã nguồn]

Từ năm 1986 trở lại trước, Đồng Hỷ là một huyện có nền kinh tế tài chính thuần nông, với thành phần kinh tế tài chính tập thể là hầu hết. Trong nông nghiệp, cây lương thực ( gồm có lúa và hoa màu ) chiếm vị trí số 1, kế đến là cây chè. Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn vất vả, trung bình lương thực 142 kg / 1 người / 1 năm ( cả màu ). Sau năm 1987, nhờ có đường lối thay đổi, kinh tế tài chính huyện Đồng Hỷ có bước tăng trưởng phong phú, phong phú và đa dạng và có vận tốc tăng trưởng kinh tế tài chính cao. [ 13 ]Năm 2000, nông – lâm – thủy hải sản chiếm tỷ suất 31,9 % ; thương mại – dịch vụ chiếm 42,6 % ; công nghiệp – xây dưng chiếm 25,5 %. Năm 2006 có sự biến hóa tỷ suất tương ứng như sau : nông – lâm – thủy hải sản chiếm tỷ suất 24,8 % ; thương mại – dịch vụ chiếm 39,1 % ; công nghiệp – xây dưng chiếm 36,9 %. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tài chính năm 2000 là 7,1 % đến năm 2006 đạt 10,6 %. Bình quân trong 5 năm ( kể từ năm 2002 cho đến năm 2006 ) mỗi năm đạt 10,2 %. [ 13 ]Năm 2012, thu ngân sách huyện đạt 747,8 tỷ đồng, xếp thứ 4 toàn tỉnh. [ 26 ]Năm 2017, thu ngân sách huyện đạt 1.095 tỷ đồng, tăng 23 % so với năm năm nay. [ 27 ] Trong đó :– Giá trị sản xuất đạt 660,3 tỷ đồng. [ 28 ]Năm 2018, huyện Đồng Hỷ đạt những chỉ tiêu kinh tế tài chính như sau : Tốc độ tăng trưởng của những ngành sản xuất năm 2018 đạt 14,46 % với thu ngân sách đạt trên 1.528 tỷ đồng nhờ lôi cuốn những vốn góp vốn đầu tư [ 7 ]. Trong đó :– Giá trị sản xuất ngành dịch vụ ( theo giá so sánh 2010 ) đạt 1.981 tỷ đồng. [ 7 ]– Giá trị sản xuất ngành công nghiệp – kiến thiết xây dựng ( theo giá so sánh 2010 ) đạt 2.215 tỷ đồng. [ 7 ]– Giá trị sản xuất nông, công nghiệp địa phương ( theo giá so sánh 2010 ) đạt 1.231 tỷ đồng. [ 7 ]– Giá trị lôi cuốn nguồn vốn góp vốn đầu tư đạt trên 1.400 tỷ đồng. [ 7 ]Năm 2019, tổng thu ngân sách huyện là 1.633,3 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách phải nộp cho nhà nước là 847,6 tỷ đồng. [ 29 ]Tính đến 6 tháng đầu năm năm 2020, thu ngân sách huyện Đồng Hỷ đạt 1.916 tỷ đồng [ 30 ] .Huyện Đồng Hỷ có vị trí địa lý thuận tiện, phần đông là tiếp giáp với thành phố Thái Nguyên. Huyện cũng thuộc vùng có nguồn tài nguyên tài nguyên lớn của tỉnh Thái Nguyên, có nhiều mỏ đá và mỏ sắt trên địa phận. Ngoài ra thành phố còn có tiềm năng lớn để tăng trưởng du lịch, với khu du lịch hoa tam giác mạch Bản Tèn, … những di tích lịch sử lịch sử dân tộc, cách mạng. Huyện Đồng Hỷ có một lượng lớn đội ngũ cán bộ, công nhân có kinh nghiệm tay nghề, năng lượng, trình độ cao và có nhiều nhà máy sản xuất, nhà máy sản xuất, công ty, doanh nghiệp trên địa phận, cung ứng nhu yếu tăng trưởng, kích thích kinh tế tài chính của huyện .Huyện Đồng Hỷ đã và đang có những chính sách tặng thêm so với những doanh nghiệp trong và ngoài nước góp vốn đầu tư vào địa phương. Nhằm cải tổ môi trường tự nhiên góp vốn đầu tư, Ủy Ban Nhân Dân huyện đã tích cực nâng cấp cải tiến những thủ tục hành chính, tạo điều kiện kèm theo thuận tiện nhất cho những nhà đầu tư tham gia góp vốn đầu tư tại huyện theo nguyên tắc ” 1 cửa “, giảm thiểu thời hạn khi nhà góp vốn đầu tư làm thủ tục hành chính để triển khai góp vốn đầu tư hoặc kinh doanh thương mại tại huyện. [ 7 ]

Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp[sửa|sửa mã nguồn]

Từ năm 2000, Đồng Hỷ tập trung chuyên sâu quy đổi cơ cấu tổ chức kinh tế tài chính, trên cơ sở xác lập 4 cụm công nghiệp chính, tương thích với tiềm năng thế mạnh của từng vùng, động viên, khuyến khích được nhiều thành phần kinh tế tài chính tiên phong cho sản xuất. Nghề truyền thống lịch sử được duy trì và tăng trưởng ; tạo thêm nghề mới, loại sản phẩm làm ra phân phối đủ nhu yếu thị trường. [ 13 ]Năm 2005, trên địa phận huyện có 11 doanh nghiệp nhà nước, hầu hết đã cổ phần hóa, sản xuất kinh doanh thương mại có hiệu suất cao. Toàn huyện có tổng 64 hợp tác xã, tổng hợp ( cũng đã được quy đổi ), hoạt động giải trí sản xuất kinh doanh thương mại trên nhiều nghành. [ 13 ]Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp tăng từ 25,5 % năm 200 lên đến 34,7 % năm 2006, đa cơ cấu tổ chức của huyện từ ” Nông, lâm nghiệp – công nghiệp – dịch vụ ” ( năm 2000 ) sang cơ cấu tổ chức ” Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – Nông lâm nghiệp – dịch vụ ” ( năm 2006 ) với tỷ suất tương ứng 36,9 % – 24,0 % và 39,1 %. Tốc độ tăng trưởng quá trình 2002 – 2006 của ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trung bình đạt 17,4 % / năm. [ 13 ] Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất chính của huyện Đồng Hỷ. Từ khi triển khai thay đổi chính sách quản trị nông nghiệp, nhất là từ năm 1991 đến năm 2006 sản xuất nông nghiệp của huyện có bước tăng trưởng vượt bậc. Huyện đã tập trung chuyên sâu tăng cường quy đổi cơ cấu tổ chức cây xanh, vật nuôi, vận động và di chuyển mùa vụ xóa bỏ độc canh, tực túc, tự cấp sang sản xuất sản phẩm & hàng hóa. [ 13 ]Trong sản xuất nông nghiệp đã tăng cường việc vận dụng những văn minh khoa học kỹ thuật vào trồng trọt và chăn nuôi, đa những loại giống mới vào sản xuất đại trà phổ thông, nâng mạng lưới hệ thống số sử dụng đất, do đó trong thập kỷ cuối của thế kỷ XX và những năm của đầu thế kỷ XXI vận tốc tăng trưởng nông nghiệp của huyện Đồng Hỷ không thay đổi trung bình 5,2 % một năm. Năng suất cây cối tăng dần đều. Riêng lúa, năm 1991 trung bình 14,2 tạ / ha lên 42,58 tạ / ha năm 2005 ( tăng gấp 3 lần so với năm 1991 ), đa tổng sản lượng lương thực từ 24.118 tấn năm 1998 lên 37.274 tấn vào năm 2006, sản lượng lương thực từ năm 1998 đến năm 2006 trung bình mỗi năm tăng trên 1.800 tấn. Bình quân lương thực giao động 300 kg / 1 người / 1 năm. [ 13 ]Huyện Đồng Hỷ có một số ít cây xanh mang tính sản phẩm & hàng hóa nhiều cây chè, cây ăn quả và những cây công nghiệp ngắn ngày. Năm 2005, toàn huyện có tổng 2.538 ha chè, hàng năm cho thu hoạch 19.554 tấn chè búp tươi sản phẩm & hàng hóa ; có 2.979 ha cây ăn quả, thu hoạch 3.500 tấn quả. Giá trị sản xuất vườn đồi đạt 22 triệu đồng / 1 ha. [ 13 ]Chăn nuôi đã trở thành ngành chính và có tỷ suất sản phẩm & hàng hóa cao. Năm 2002, tổng đàn lợn của huyện có 46.585 con và xuất chuồng 2.517 tấn thịt lợn hơi thương phẩm. Năm 2006 cả đầu lợn và khối lượng xuất chuồng đều tăng 4,3 %. Riêng đàn bò tăng 35,7 % so với năm 2002. [ 13 ] Tính đến năm 2005, đất rừng và đồi núi của huyện Đồng Hỷ chiếm 85 % diện tích quy hoạnh tự nhiên. Phần lớn rừng bị nghèo kiệt. Tốc độ tăng trưởng ngành lâm nghiệp huyện Đồng Hỷ từ năm 1991 cho đến năm 1998 giảm trung bình 4,7 % do rừng đang ở thời kỳ phục sinh, cộng với chủ trương đóng cửa rừng của Nhà nước. [ 13 ]Trong những năm gần đây, huyện Đồng Hỷ đã có những chủ trương về rừng nên vận tốc hồi sinh khá mạnh. Ngoài rừng tái sinh được chăm nom bảo vệ, mỗi năm trung bình toàn huyện trồng được 150 ha rừng. Xét về vĩnh viễn tiềm năng kinh tế tài chính lâm nghiệp huyện Đồng Hỷ rất là lớn. [ 13 ]

Thương mại dịch vụ[sửa|sửa mã nguồn]

Mạng lưới thương mại dịch vụ được lan rộng ra xuống đến từng thôn xóm. Các cơ sở kinh doanh thương mại, gồm có cả chợ khu vực được tăng cấp lan rộng ra, loại sản phẩm phong phú, đa dạng chủng loại, bảo vệ chất lượng, nâng cao giá trị ship hàng sản xuất và đời sống cho nhân dân của những xã vùng cao và miền núi. Nhìn chung, thị trường huyện Đồng Hỷ những năm gần đây có bước tăng trưởng can đảm và mạnh mẽ và lành mạnh. Giá trị mức kinh doanh bán lẻ năm 2006 đạt 198.912 tỷ đồng so với 94.404 tỷ đồng của năm 2000. Năm 2006, toàn huyện có 1.527 hộ mái ấm gia đình kinh doanh thương mại, dịch vụ. [ 13 ]Cho đến năm 2006, huyện Đồng Hỷ có 1 số ít chợ chính như sau : chợ Chùa Hang ( thị xã Chùa Hang ), chợ Trại Cau ( thị xã Trại Cau ), chợ Sông Cầu ( thị xã Sông Cầu ), chợ Trại Cài ( xã Minh Lập ), chợ Khe Mo ( xã Khe Mo ), …Từ năm 1986 quay trở lại trước, Đồng Hỷ là một huyện có nền kinh tế tài chính thuần nông, với thành phần kinh tế tài chính tập thể là đa phần. Trong nông nghiệp, cây lương thực ( gồm có lúa và hoa màu ) chiếm vị trí số 1, kế đến là cây chè. Đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn vất vả, trung bình lương thực 142 kg / 1 người / 1 năm ( cả màu ). Sau năm 1987, nhờ có đường lối thay đổi, kinh tế tài chính huyện Đồng Hỷ có bước tăng trưởng phong phú, nhiều mẫu mã và có vận tốc tăng trưởng kinh tế tài chính cao. [ 13 ]Năm 2000, nông – lâm – thủy hải sản chiếm tỷ suất 31,9 % ; thương mại – dịch vụ chiếm 42,6 % ; công nghiệp – xây dưng chiếm 25,5 %. Năm 2006 có sự đổi khác tỷ suất tương ứng như sau : nông – lâm – thủy hải sản chiếm tỷ suất 24,8 % ; thương mại – dịch vụ chiếm 39,1 % ; công nghiệp – xây dưng chiếm 36,9 %. Tốc độ tăng trưởng kinh tế tài chính năm 2000 là 7,1 % đến năm 2006 đạt 10,6 %. Bình quân trong 5 năm ( kể từ năm 2002 cho đến năm 2006 ) mỗi năm đạt 10,2 %. [ 13 ]Năm 2012, thu ngân sách huyện đạt 747,8 tỷ đồng, xếp thứ 4 toàn tỉnh. [ 26 ]Năm 2017, thu ngân sách huyện đạt 1.095 tỷ đồng, tăng 23 % so với năm năm nay. [ 27 ] Trong đó :– Giá trị sản xuất đạt 660,3 tỷ đồng. [ 28 ]Năm 2018, huyện Đồng Hỷ đạt những chỉ tiêu kinh tế tài chính như sau : Tốc độ tăng trưởng của những ngành sản xuất năm 2018 đạt 14,46 % với thu ngân sách đạt trên 1.528 tỷ đồng nhờ lôi cuốn những vốn góp vốn đầu tư [ 7 ]. Trong đó :

– Giá trị sản xuất ngành dịch vụ (theo giá so sánh 2010) đạt 1.981 tỷ đồng.[7]

– Giá trị sản xuất ngành công nghiệp – thiết kế xây dựng ( theo giá so sánh 2010 ) đạt 2.215 tỷ đồng. [ 7 ]– Giá trị sản xuất nông, công nghiệp địa phương ( theo giá so sánh 2010 ) đạt 1.231 tỷ đồng. [ 7 ]– Giá trị lôi cuốn nguồn vốn góp vốn đầu tư đạt trên 1.400 tỷ đồng. [ 7 ]Năm 2019, tổng thu ngân sách huyện là 1.633,3 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách phải nộp cho nhà nước là 847,6 tỷ đồng. [ 29 ]Tính đến 6 tháng đầu năm năm 2020, thu ngân sách huyện Đồng Hỷ đạt 1.916 tỷ đồng [ 30 ] .Huyện Đồng Hỷ có vị trí địa lý thuận tiện, hầu hết là tiếp giáp với thành phố Thái Nguyên. Huyện cũng thuộc vùng có nguồn tài nguyên tài nguyên lớn của tỉnh Thái Nguyên, có nhiều mỏ đá và mỏ sắt trên địa phận. Ngoài ra thành phố còn có tiềm năng lớn để tăng trưởng du lịch, với khu du lịch hoa tam giác mạch Bản Tèn, … những di tích lịch sử lịch sử dân tộc, cách mạng. Huyện Đồng Hỷ có một lượng lớn đội ngũ cán bộ, công nhân có kinh nghiệm tay nghề, năng lượng, trình độ cao và có nhiều xí nghiệp sản xuất, xí nghiệp sản xuất, công ty, doanh nghiệp trên địa phận, cung ứng nhu yếu tăng trưởng, kích thích kinh tế tài chính của huyện .Huyện Đồng Hỷ đã và đang có những chính sách khuyến mại so với những doanh nghiệp trong và ngoài nước góp vốn đầu tư vào địa phương. Nhằm cải tổ thiên nhiên và môi trường góp vốn đầu tư, Ủy Ban Nhân Dân huyện đã tích cực nâng cấp cải tiến những thủ tục hành chính, tạo điều kiện kèm theo thuận tiện nhất cho những nhà đầu tư tham gia góp vốn đầu tư tại huyện theo nguyên tắc ” 1 cửa “, giảm thiểu thời hạn khi nhà góp vốn đầu tư làm thủ tục hành chính để triển khai góp vốn đầu tư hoặc kinh doanh thương mại tại huyện. [ 7 ]

Giao thông – thủy lợi – điện lực[sửa|sửa mã nguồn]

Tính đến năm 2005, huyện Đồng Hỷ có mạng lưới hệ thống giao thông vận tải đường đi bộ tương đối hoàn hảo với tổng chiều dài 729,8 km, trong đó có 15,5 km quốc lộ 1B chạy ngang qua huyện, tỉnh lộ dài 27 km, đường liên xã dài 57,5 km, đường xã dài 170 km và đường liên xóm dài tổng số 403,9 km. Mật độ đường toàn mạng lưới là 13,4 km / km2 ; 67,2 km / 1 vạn dân. 100 % những xã có đường xe hơi đến TT. Chất lượng vào loại trung bình ở miền núi. [ 13 ]Cho đến năm 2005, toàn huyện có 183 khu công trình thủy lợi lớn nhỏ, trong đó có hai hồ chứa nước lớn, 6 mạng lưới hệ thống bơm điện, 40 tuyến mương trong đó có 25 tuyến được bê tông hóa cùng với 1 số ít khu công trình thủy lợi nhủ đủ tới cho 50 % diện tích quy hoạnh chiêm xuân của huyện. [ 13 ]Tính đến cùng năm 2005, huyện Đồng Hỷ nằm trong mạng lưới hệ thống điện lưới miền Bắc, có 6 tuyến lưới 35 kV đi qua với tổng chiều dài là 72 km và một lưới điện 6 kV có chiều dài 33 km. Toàn huyện có 55 trạm biến áp, 100 % số xã có lưới điện vương quốc, trên 80 % số hộ được dùng điện. [ 13 ] Mức sống dân cư, theo tác dụng tìm hiểu của huyện Đồng Hỷ năm 2006 : tỷ suất hộ giàu chiếm 20,50 %, hộ trung bình chiếm 59,55 % và hộ nghèo chiếm 20 %, không còn có hộ đói. 90 % số hộ vùng thấp có nhà xây, hầu hết những mái ấm gia đình có phương tiện đi lại nghe nhìn, 25 % số hộ có xe máy. Toàn huyện có 7.158 máy điện thoại thông minh cố định và thắt chặt, 481 điện thoại di động. [ 13 ]

Các TT y tế[sửa|sửa mã nguồn]

  • Trung tâm y tế huyện Đồng Hỷ

An ninh – quốc phòng[sửa|sửa mã nguồn]

Bộ tư lệnh Quân khu 1 đóng tại huyện Đồng Hỷ có trách nhiệm tổ chức triển khai, thiết kế xây dựng, quản trị và chỉ huy quân đội chiến đấu chống giặc ngoại xâm bảo vệ vùng Đông Bắc bộ Nước Ta và bảo vệ thủ đô hà nội Thành Phố Hà Nội từ phía bắc và đông bắc. Quân khu gồm có những tỉnh : Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Giang, Thành Phố Bắc Ninh và là một trong 7 quân khu thường trực Bộ Quốc phòng Nước Ta. [ 6 ] Công tác giáo dục đã và đang được chăm sóc thực thi tốt ; tính từ năm năm ngoái cho đến năm 2018 đã thiết kế xây dựng được thêm 12 trường học đạt chuẩn Quốc gia, nâng tổng số trường học trên toàn huyện đạt chuẩn Quốc gia là 47/53 trường học, bằng 88,6 % số trường đạt chuẩn Quốc gia ( trong đó có 6 trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2 ), hàng loạt những cán bộ và giáo viên đều có trình độ đạt chuẩn, trong đó trên chuẩn đạt 81 %. Luôn giữ vững và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mần nin thiếu nhi cho trẻ nhỏ 5 tuổi ; phổ cập giáo dục Tiểu học mức độ 3 và phổ cập giáo dục Trung học cơ sở và xóa mù chữ mức độ 2 tại hàng loạt những xã, thị xã trên địa phận ; chất lượng giáo dục được nâng lên, tỷ suất học viên tốt nghiệp Trung học cơ sở hằng năm đạt trên 99 % ; học viên triển khai xong chương trình Tiểu học đạt 100 %. [ 7 ] Tính đến năm 2018, hàng loạt Trạm y tế của những xã, thị xã trên địa phận huyện đều có bác sỹ và đạt chuẩn vương quốc theo bộ tiêu chuẩn mới. Các chương trình về tiềm năng y tế – dân số và phòng chống dịch bệnh đã được tiến hành thực thi đồng điệu, không có dịch bệnh lớn xảy ra trên địa phận ; công tác làm việc khám chữa bệnh được thực thi theo đúng quy định trình độ tại những cơ sở khám và chữa bệnh bảo vệ theo Luật khám chữa bệnh ; chất lượng khám chữa bệnh tại những cơ sở y tế và niềm tin, thái độ ship hàng người bệnh được củng cố và ngày càng nâng cao ; công tác làm việc tuyên truyền về Luật Bảo hiểm y tế được tăng cường ; tỷ suất bao trùm bảo hiểm y tế đến nay đạt 98,5 %. [ 7 ]

Chính sách xã hội[sửa|sửa mã nguồn]

Cho đến đầu năm 2018, những chủ trương xã hội của huyện đã được tiến hành thực thi tốt, nhất là chủ trương so với người có công, giảm nghèo, phúc lợi xã hội, đào tạo và giảng dạy nghề và xử lý việc làm cho người lao động ; trung bình hằng năm số lao động được tạo việc làm mới đạt trên 2.200 lao động ; tỷ suất hộ nghèo trung bình hằng năm giảm trên 3 % ; công tác làm việc phòng chống tệ nạn xã hội trên địa phận huyện đạt tác dụng tích cực, giảm trên 3 % số người nghiện ma tuý mỗi năm. [ 7 ]

Hệ thống kiến trúc[sửa|sửa mã nguồn]

Hệ thống điện[sửa|sửa mã nguồn]

Nguồn phân phối điện cho huyện Đồng Hỷ lúc bấy giờ là nguồn điện lưới vương quốc với mạng lưới hệ thống đường dây cao thế 110 kV và 220 kV trải qua đường hạ thế xuống 35 kV – 12 kV – 6 kV / 380V / 220V ; hầu hết những đường phố chính tại những thị xã, khu đô thị, khu dân cư trên địa phận huyện đều có rất đầy đủ đèn chiếu sáng đêm hôm. [ 31 ]

Hệ thống nước hoạt động và sinh hoạt[sửa|sửa mã nguồn]

Huyện Đồng Hỷ hiện có hai xí nghiệp sản xuất nước là xí nghiệp sản xuất nước Hóa Thượng [ 32 ] [ 33 ] và xí nghiệp sản xuất nước Trại Cau [ 34 ] .

Hệ thống thông tin liên lạc và tiếp thị quảng cáo[sửa|sửa mã nguồn]

Một trạm phát thanh công cộng tại xã Hóa Thượng Trạm phát sóng mạng Vinaphone tại xã Minh Lập ( có từ năm 1998 )Huyện có 1 tổng đài điện tử và nhiều tổng đài khu vực. Mạng lưới viễn thông di động đã và đang được góp vốn đầu tư đồng điệu hoàn hảo, trên địa phận huyện đã được phủ sóng và khai thác dịch vụ thông tin di động bởi 4 mạng di động : Vinaphone, Mobifone, Viettel, Vietnamobile. Báo chí :
Phát thanh :

  • Đài truyền thanh truyền hình Đồng Hỷ: tần số 99 MHz

Đây cũng là cơ quan ngôn luận của huyện, với mạng lưới hệ thống loa công cộng phủ sóng rộng rãi trên địa phận, cùng sóng không dây FM. Đài cũng đã đưa vào quản lý và vận hành chương trình truyền hình Đồng Hỷ trên sóng TN1 – Đài PTTH tỉnh Thái Nguyên .

  • Đài Phát thanh – Truyền hình Thái Nguyên: tần số 106.5 MHz

Đây là kênh thông tin của Đài PTTH tỉnh Thái Nguyên, với thời lượng 16 tiếng / ngày qua sóng FM. Cung cấp những thông tin thời sự trong tỉnh, trong và ngoài nước, cùng nhiều nghành nghề dịch vụ khác .

  • Ngoài ra cũng có thể nghe được một số kênh phát thanh của Đài tiếng nói Việt Nam

Truyền hình :

  • Đài Phát thanh – Truyền hình Thái Nguyên: kênh thông tin tổng hợp TN1HD (thời lượng 24h/ngày), kênh khoa giáo và giải trí TN2HD (thời lượng 18h/ngày. Hiện nay kênh TN1 đã phủ sóng vệ tinh Vinasat1.2, hệ thống truyền hình số mặt đất DVB T2, cùng nhiều hệ thống truyền hình như VTVCab HD, VTC, MyTV của VNPT, NextTV, FPT, và các hệ thống truyền hình OTT trên di động. Kênh TN2 cũng có thể xem qua vệ tinh, truyền hình VTC với chất lượng hình ảnh HD.
  • Ngoài ra hầu hết các kênh truyền hình quốc gia và quốc tế đặc sắc cùng các kênh địa phương khác đã được phân phối thông qua các hệ thống truyền hình trả tiền đang hiện diện tại Thái Nguyên như VTVCab, VTC, AVG, K+, FPT, MyTV, NextTV,…

Văn hóa xã hội[sửa|sửa mã nguồn]

Lưu ý: Tài liệu này đã quá cũ, được tham khảo từ “Địa chí Thái Nguyên – các huyện, thành phố, thị xã” xuất bản từ năm 2006 nên phần này vẫn còn những thông tin cũ và chưa được cập nhật so với hiện tại.

Huyện Đồng Hỷ có một kho tàng văn hóa truyền thống dân tộc bản địa nhiều mẫu mã và phong phú. Bên cạnh những làn điệu dân ca, hát chèo, hát chầu văn của người Việt còn có những làn điệu dân ca của những dân tộc bản địa Nùng, Dao, Hmông, Sán Chay, Sán Dìu, … trong những ngày hội mùa, đợt nghỉ lễ, ngày tết, khét tiếng rất rực rỡ. [ 13 ]Hàng năm trong huyện thường tổ chức triển khai những liên hoan lớn vào tháng giêng âm lịch, như tiệc tùng Chùa Hang, hội đền Long Giàn, liên hoan đền Hích, … tổ chức triển khai trình diễn văn nghệ, hoạt động giải trí thể thao như đấu vật, cầu lông, bóng chuyền, bóng đá, tung còn, … tạo ra không khí đoàn kết, chan hòa trong đời sống văn hóa truyền thống hội đồng. [ 13 ]Chùa Hang, chùa hang Linh Sơn là những di tích lịch sử đã được xếp hạng cấp Quốc gia. Đền Gốc Sấu, đền Thượng, đền Long Giàn, đền Hích và hàng chục di tích lịch sử những loại khác là những di sản văn hóa truyền thống rực rỡ của nhân dân huyện Đồng Hỷ. [ 13 ]Nhân dân trong huyện hưởng ứng sôi sục trào lưu ” Toàn dân đoàn kết kiến thiết xây dựng đời sống văn hóa truyền thống “. Đến năm 2006, đã có hơn 76 xóm, bản đạt thương hiệu ” xóm văn hóa truyền thống “, 18.816 hộ dân đạt tiêu chuẩn ” Gia đình văn hóa truyền thống “, 140 cơ quan nhà máy sản xuất, trường học trong huyện được công nhận là ” Cơ quan văn hóa “. 223 xóm có nhà văn hóa, 15/20 xã, thị xã có TT văn hóa truyền thống, 322 cụm loa truyền thanh FM. 100 % xã, thị xã có điểm Bưu điện – văn hóa truyền thống xã. [ 13 ]Thời thuộc Pháp, cả huyện Đồng Hỷ có một trường tiểu học bán cấp đặt ở xã Huống Thượng. Năm học cao nhất trường có 50 học viên, phần đông là con nhà khá giả. 95 % số dân trong huyện không biết chữ. [ 13 ]Năm 2006, huyện Đồng Hỷ có tổng số 49 trường học gồm có :

Tiểu học: 27 trường, 387 phòng học và 426 lớp học.[13]
Trung học cơ sở: 20 trường, 228 phòng học và 247 lớp học.[13]
Trung học phổ thông: 1 trường, 35 phòng học và 65 lớp học.[13]
Tổng số học sinh của cả ba cấp học là: 21.194 học sinh.[13]
Tổng số giáo viên của cả ba cấp: 1.164 giáo viên, hầu hết có trình độ cao đẳng hoặc đại học, nhiều người có trình độ cao học.[13]

Huyện Đồng Hỷ đã hoàn thành xong chương trình xóa mù chữ và phổ cập giáo dục Tiểu học từ năm 1998 và hoàn thành xong Lever phổ cập Trung học cơ sở từ năm 2003. [ 13 ]Hệ thống y tế của huyện Đồng Hỷ lúc đó gồm có 23 cơ sở khám chữa bệnh, trong đó có 1 bệnh viện đa khoa với 100 giường bệnh, 2 phòng khám khu vực có 5 giường bệnh, 20 trạm y tế xã có 90 giường bệnh. Các trang thiết bị cho khám và chữa bệnh từng bước được văn minh. Bao gồm nhiều đội ngũ cán bộ y tế gồm 178 người, trong đó có trình độ ĐH và trên ĐH là 54 người. Tất cả những xã có trạm y tế và mỗi trạm đều có y, bác sĩ vừa đủ. 100 % xóm bản có cán bộ y tế Giao hàng, chăm nom sức khở cho nhân dân. Hai xã Hợp Tiến và Linh Sơn đạt chuẩn Quốc gia về y tế. [ 13 ]Trạm y tế xã Hợp Tiến, một xã vùng cao của huyện là nổi bật tiên tiến và phát triển của toàn ngành y tế Thái Nguyên về dùng thuốc nam chưac bệnh có hiệu quả cao. Trạm trưởng là y sĩ Đặng Đăng Lý người dân tộc bản địa Dao, năm 2000 đã được Nhà nước phong tặng thương hiệu ” Anh hùng lao động ” trong thời kỳ thay đổi. [ 13 ]Những năm gần đây, huyện Đồng Hỷ thực thi có tác dụng chương trình y tế Quốc gia, chương trình chăm nom sức khỏe thể chất hội đồng. Trong những năm qua trên địa phận huyện không xảy ra dịch bệnh ( kể từ năm 2005 ). Riêng năm 2003 y tế của huyện đã khám bệnh cho 76.000 lượt người, điều trị cho 5.011 người khỏi bệnh. Trẻ suy dunh dưỡng từ 28,4 % vào năm 2001 đã được giảm xuống còn 28 % vào năm 2003. [ 13 ] Đồng Hỷ tuy là một huyện miền núi nhưng ở đây vẫn có 2 vị tiến sỹ nổi tiếng trong nhà nhà Hậu Lê và nhà Mạc. Đó là Đàm Sâm và Dương Ức .

Đàm Sâm (Chữ Hán: 譚森) là người xã Sa Kệ, huyện Văn Lãng, phủ Tam Đới (Tam Đái) (nay thuộc thôn Sa Kệ, xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên).

Đàm Sâm đỗ Đệ Tam giáp Đồng tiến sỹ xuất thân khoa Tân Mùi niên hiệu Hồng Thuận thứ 3 ( 1511 ) đời vua Lê Tương Dực. Làm quan đến chức Thượng thư. Tên và quê quán Đàm Sâm có ghi trên Bia Tiến sĩ ở Văn Miếu – Quốc tử giám tại Thành Phố Hà Nội .

Dương Ức là một Tiến sĩ Nho học Việt Nam. Ông quê ở xã Hóa Trung, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Ông đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân khoa thi năm Tân Sửu 1541.

Dưới thời nhà Mạc, chức vụ lớn nhất mà Dương Ức được thụ phong là Thừa Chính sứ. Chức vụ này ở thời Lê – Mạc ( là chức trưởng quan, đứng đầu một đạo hoặc một xứ ) .

Di sản văn hóa truyền thống phi vật thể cấp Quốc gia[sửa|sửa mã nguồn]

Hoạt động văn hóa truyền thống[sửa|sửa mã nguồn]

Các hoạt động giải trí văn hóa truyền thống thông tin tuyên truyền có nhiều thay đổi về nội dung và hình thức, cung ứng nhu yếu Giao hàng trách nhiệm chính trị của huyện và nâng cao đời sống và niềm tin cho nhân dân huyện Đồng Hỷ ; trào lưu thể dục, thể thao quần chúng tăng trưởng sâu rộng ; thiết chế văn hóa truyền thống đang được liên tục được củng cố, phát huy và triển khai xong ; tính đến đầu năm 2018, đã có tới 201 trên tổng 205 xóm, bản, tổ dân phố có nhà văn hóa, trong đó có 113 nhà văn hóa đạt tiêu chuẩn nông thôn mới ; giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể như : Di tích lịch sử dân tộc và liên hoan của đồng bào dân tộc thiểu số ( đồng bào dân tộc bản địa H’Mông, Sán Dìu ) … đang được chăm sóc giữ gìn và phát huy truyền thống cuội nguồn tốt đẹp ; công tác làm việc quản trị nhà nước nhà nước về nghành văn hóa truyền thống, thông tin được tăng cường và bảo vệ đúng với khuynh hướng tăng trưởng. [ 7 ]

Truyền thống lịch sử dân tộc[sửa|sửa mã nguồn]

Nhân dân những dân tộc bản địa huyện Đồng Hỷ có truyền thống lịch sử yêu nước và chống lại áp bức. Ngay từ thế kỷ thứ X và XI, nhân dân huyện Đồng Hỷ đã hai lần tham gia kháng chiến dưới sự chỉ huy của triều đình Tiền Lê và triều đình nhà Lý chống quân xâm lược nhà Tống. Ở thế kỷ XIII, XV, quân dân huyện Đồng Hỷ đã sát cánh cùng với cả nước để kháng chiến chống quân xâm lược Mông – Nguyên và giặc Minh. Tháng 3 năm 1884, khi thực dân Pháp đem quân lên đánh thành Thái Nguyên, nhân dân huyện Đồng Hỷ đã đứng lên cùng với những người yêu nước trong quân đội triều đình đánh trả bọn xâm lược, buộc chúng phải tháo chạy. Năm 1887, Hoàng Hoa Thám chỉ huy nông dân Yên Thế ( Bắc Giang ) khởi nghĩa, Đồng Hỷ trở thành địa phận hoạt động giải trí của nghĩa quân, nhân dân địa phương đã tích cực tham gia, ủng hộ lương thực, thực phẩm cho cuộc khởi nghĩa. [ 13 ]Nhân dân những dân tộc bản địa huyện Đồng Hỷ đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa binh lính người Việt trong quân đội Pháp đóng ở tỉnh lỵ Thái Nguyên, dưới sự chỉ huy của Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến năm 1917, hàng trăm người trẻ tuổi trai tráng đã gia nhập nghĩa quân. [ 13 ]Ngày 3 tháng 2 năm 1920, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức sinh ra. Cao trào cách mạng 1939 – 1945 đã ảnh hưởng tác động đến huyện Đồng Hỷ, trước hết là đến những xã vùng cap, miền núi tiếp giáp với địa thế căn cứ cách mạng Bắc Sơn – Võ Nhai. [ 13 ]Tháng 10 năm 1941, từ địa thế căn cứ Võ Nhai, một tổ Cứu Quốc quân đã bí hiểm về bản người Dao, xã Cây Thị tuyên truyền giác ngộ quần chúng, thiết kế xây dựng cơ sở cách mạng. Nhiều mái ấm gia đình, nhiều người trẻ tuổi dân tộc bản địa Dao đã theo Việt Minh, tích cực ủng hộ và tham gia cách mạng, xã Cây Thị trở thành TT trào lưu cách mạng ở những xã Đông Bắc của huyện Đồng Hỷ, được Trung ương đặt trạm liên lạc trên đường giao liên bí hiểm từ ATK II ( An toàn khu II ) lên căn cứ địa. Từ xã Cây Thị, trào lưu nhanh gọn tăng trưởng đến những xã Văn Hán, Tân Lợi, Hợp Tiến, … Giặc Pháp nhiều lần đưa lính đến để bắt người, cướp của, đốt nhà và lập trại tập trung dồn dân phòng dập tắt trào lưu. Lực lượng cách mạng tuy có tổn thất, khó khăn vất vả, nhưng có Cứu Quốc quân tương hỗ, những cơ sở mặt trận Việt Minh lãnh đạo nhân dân nhất quyết chống địch khủng bố. Nhờ đó, sau ngày Nhật hòn đảo chính quyền sở tại Pháp ( ngày 9 tháng 3 năm 1945 ) hầu hết những xã trong huyện đã có lực lượng mạnh, để khi có lực lượng Cứu Quốc quân từ Võ Nhai xuống tương hỗ đã phát động quần chúng giành chính quyền sở tại thắng lợi. Tháng 5 năm 1945, chính quyền sở tại cơ sở toàn bộ những xã trong huyện đã về tay nhân dân. Tháng 7 năm 1945 m Ban cán sự Đảng và Ủy ban Dân tộc giải phóng huyện Đồng Hỷ được xây dựng. [ 13 ]Trong cuộc kháng chiến chống lại thực dân Pháp, quân Pháp đã tiến công vào huyện Đồng Hỷ 2 lần : một lần là vào Thu – Đông năm 1947, lần thứ hai là vào tháng 10 năm 1950. Nhiều khu vực trên địa phận huyện như : Măng Đắng, Trại Táo, Na Đành, Chùa Hang, … chiến sự diễn ra ác liệt, bộ đội và di kích địa phương đã tiến công và tàn phá được nhiều tên địch. [ 13 ]Trong tổng số 9 năm kháng chiến chống lại thực dân Pháp đã có 1.200 người trẻ tuổi huyện Đồng Hỷ nhập ngũ, hàng vạn lượt dân công, hơn 7.000 tấn lương thực, thực phẩm được kêu gọi để ship hàng cho mặt trận. [ 13 ]Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, huyện Đồng Hỷ là địa phận không bị quân Mỹ tập trung chuyên sâu đánh phá ác liệt. Thời kỳ 1965 – 1972, hàng ngàn lượt chiếc máy bay Mỹ, có cả siêu pháo đài bay B52, dội xuống huyện Đồng Hỷ hàng trăm tấn bom đạn. Quân và dân Đồng Hỷ đã phối hợp ngặt nghèo với bộ đội phòng không, bắn rơi và bắn bị thương nhiều máy bay Mỹ, tàn phá và bắt sống nhiều tên giặc lái. Huyện Đồng Hỷ đã gửi ra mặt trận 5.175 người con xuất sắc ưu tú và hàng vạn tấn lương thực, thực phẩm, góp phần hơn 10 vạn ngày công thiết kế xây dựng trận địa, bảo vệ giao thông vận tải trong thời kỳ cuộc chiến tranh. [ 13 ]Trong những thời kỳ cách mạng và kháng chiến để bảo vệ và kiến thiết xây dựng tổ quốc, nhân dân những dân tộc bản địa của huyẹn Đồng Hỷ đã có những góp sức to lớn : 767 liệt sỹ, 425 thương bệnh binh ; được Nhà nước tặng thưởng trên 5.600 huân chương những loại ; huyện Đồng Hỷ và hai xã Cây Thị, Khe Mo được tuyên dương đơn vị chức năng Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân thời kỳ kháng chiến chống Pháp, 3 xóm và 26 mái ấm gia đình được Tặng Ngay Bằng có công với nước ; 10 bà mẹ được Tặng Ngay thương hiệu ” Bà mẹ Nước Ta anh hùng “, 2 cá thể được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang là Trần Thế Lại và Ngô Văn Sơn. Huyện Đồng Hỷ có tổng 37 cán bộ lão thành cách mạng, 21 cán bộ hoạt động giải trí tiền khởi nghĩa. [ 13 ] Xã Minh Lập tích cực kiến thiết xây dựng nông thôn mới kiểu mẫuHiện nay huyện Đồng Hỷ đã triển khai xong thiết kế xây dựng nông thôn mới tại 11 xã thuộc huyện, còn 2 xã chưa đủ chỉ tiêu. [ 36 ] Huyện đang phấn đấu thiết kế xây dựng đô thị Hóa Thượng là đô thị loại V đến cuối năm 2020 và phấn đấu đạt đô thị loại IV đến năm 2025 [ 37 ], đô thị Trại Cau là đô thị loại IV cho đến năm 2022, kiến thiết xây dựng đô thị Sông Cầu là đô thị loại IV đến năm 2030. Cố gắng phấn đấu triển khai xong kiến thiết xây dựng nông thôn mới tại hai xã Tân Long, Hợp Tiến cho đến năm 2022 và xã Minh Lập đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu trong cuối năm 2020 và cũng đưa Đồng Hỷ trở thành huyện thứ hai tại tỉnh Thái Nguyên đạt chuẩn nông thôn mới trong nhiệm kỳ 2020 – 2025, sau huyện Phú Bình. [ 5 ] [ 38 ] [ 39 ] Hiện chưa có thống kê rất đầy đủ về số lượng những đường, phố ở huyện Đồng Hỷ. Nhìn chung, hạ tầng giao thông vận tải đô thị của huyện đã và đang được góp vốn đầu tư kiến thiết xây dựng một cách đồng điệu .

Đường phố chính[sửa|sửa mã nguồn]

Tuyến đường Đại Đoàn Kết tại xã Hóa Thượng nhân ngày kỉ niệm 130 năm ngày sinh quản trị Hồ Chí Minh Đường Tân Lập thuộc thị xã Sông Cầu

  1. Lê Quý Đôn (Hóa Thượng)
  2. Lý Thái Tổ (Hóa Thượng)
  3. Điện Biên Phủ (Chùa Hang, Hóa Thượng; trực thuộc Bộ Tư lệnh – Quân khu 1)
  4. Đại Đoàn Kết (Hóa Thượng; trực thuộc Bộ Tư lệnh – Quân khu 1)
  5. Linh Nham (Hóa Thượng)
  6. Võ Thị Sáu (Hóa Thượng)
  7. Trường Trinh (Hóa Thượng)
  8. Núi Voi (Chùa Hang, Hóa Thượng)
  9. Phạm Văn Đồng (Hóa Thượng)
  10. Nguyễn Huệ (Hóa Trung)
  11. Ngô Quyền (Hóa Thượng)
  12. Minh Khai (Hóa Thượng, Minh Lập)
  13. Trần Quốc Tuấn (Quang Sơn)
  14. Chiến Thắng (Chùa Hang, Hóa Thượng)
  15. Thống Nhất (Chùa Hang, Hóa Thượng)
  16. 3 tháng 2 (Chùa Hang, Hóa Thượng; trực thuộc Bộ Tư lệnh – Quân khu 1)
  17. Hồng Thái (Hóa Thượng; thuộc khu đô thị Hồng Thái)
  18. Nguyễn Trãi (Trại Cau)
  19. Phố Hích (Hòa Bình)
  20. Trại Cài (Minh Lập)
  21. Tân Lập (Sông Cầu)
  22. Khởi Nghĩa (Sông Cầu)
  23. Lê Lợi (Trại Cau)
  24. Đổi Mới (Trại Cau)
  25. Nguyễn Ái Quốc (Trại Cau)
  26. Quang Trung (Nam Hòa)
  27. Chu Văn An (Nam Hòa)
  28. Trần Hưng Đạo (Nam Hòa)
  29. Hùng Vương thứ 18 (Hóa Trung)
  30. Cách mạng tháng tám (Hóa Trung)
  31. Hoàng Diệu (Hóa Trung)

Tổng cộng trên địa phận huyện Đồng Hỷ có tổng 47 tuyến đường phố được đặt tên

Đường liên huyện, tỉnh đi qua địa phận huyện[sửa|sửa mã nguồn]

Các tuyến xe buýt[sửa|sửa mã nguồn]

Huyện hiện có nhiều tuyến xe buýt đi tới toàn bộ những địa phương trong tỉnh, gồm có :

  • Paris m 4 jms.svg Đồng Hỷ Thành phố Thái NguyênPhố Nỷ (Sóc Sơn, Hà Nội)
  • Paris m 7 jms.svg Quyết Thắng (Thành phố Thái Nguyên)Đồng HỷĐình Cả (Võ Nhai)
  • Paris m 8 jms.svg Bình Long (Võ Nhai)Phố Nỷ (Sóc Sơn, Hà Nội)
  • Paris m 9 jms.svg Thị trấn Trại Cau (Đồng Hỷ)Thịnh Đán (Thành phố Thái Nguyên)Thành phố Sông CôngKCN Yên Bình (SAMSUNG Phổ Yên)

Hệ thống giao thông vận tải liên vùng[sửa|sửa mã nguồn]

Tuyến đường tàu của mỏ sắt Trại Cau đi qua địa phận thị xã Trại CauHuyện Đồng Hỷ cách thủ đô hà nội TP. Hà Nội 85 km và cách trường bay quốc tế Nội Bài 55 km. Ngoài ra huyện còn là cửa ngõ đi tỉnh khác như : Lạng Sơn, Bắc Giang .

  • Đường bộ:

Huyện Đồng Hỷ là một đầu mút giao thông vận tải với 3 đường quốc lộ và 1 tuyến tỉnh lộ đi qua gồm : Quốc lộ 17 ( đi TP.HN, qua Bắc Giang, Thành Phố Bắc Ninh ), Quốc lộ 1B ( đi Lạng Sơn và thành phố Thái Nguyên ), tỉnh lộ 269 ( đi Võ Nhai ) và Quốc lộ 1B mới đi thành phố Thái Nguyên .

  • Đường sắt:

Huyện Đồng Hỷ gồm 2 mạng lưới hệ thống đường tàu chính : Lưu Xá – Kép và đường sắt Lưu Xá – Mỏ sắt Trại Cau .

Ca khúc về Đồng Hỷ[sửa|sửa mã nguồn]

Đồng Hỷ một miền quê – sáng tác : Sở Văn hóa thông tin tỉnh Thái Nguyên

Huyện có hơn 30 làng nghề chè và 1 làng nghề miến:

  • Làng nghề miến Việt Cường
  • Trồng và sơ chế chè tại nhiều thôn hoặc xã.

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Cổng thông tin điện tử huyện Đồng Hỷ – tỉnh Thái Nguyên[liên kết hỏng]